Sat, 19/04/2014   Đăng nhập | Đăng ký | Quên mật khẩu}
DỊCH VỤ Y TẾ GIA ĐÌNH - CHĂM SÓC MẸ & BÉ
LUÔN LẮNG NGHE VÀ CHIA SẺ CÙNG NGƯỜI BỆNH
Home dịch vụ y tế tại nhà Tắc Tia Sữa Hẹp Bao Quy Đầu Hẹp Hậu Môn Tin tức dịch vụ y tế gia đình liên hệ
Liên kết Website
dịch vụ y tế tại nhà
TẮC TIA SỮA
Thông tắc tia sữa
Viêm Vú
Điều trị Viêm tuyến sữa
Điều trị Viêm Abscess vú
HẸP HẬU MÔN
BAO QUY ĐẦU
THAY BĂNG CẮT CHỈ
CHĂM SÓC BÉ TOÀN DIỆN
CHĂM SÓC MẸ TOÀN DIỆN
HỖ TRỢ TRỰC TUYẾN
Tin mới đăng
Đối tác - Quảng cáo
nong hẹp bao quy đầu trẻ nhỏ
hẹp bao quy đầu trẻ nhỏ
http://buthocgioi.com/
điều trị tắc tia sữa
Thống kê
Số lượt truy cập 962.644
Tổng số Thành viên 8
Số người đang xem 9
Điều trị Viêm Abscess vú

Điều trị Viêm Abscess vú

Cập nhật cuối lúc 11:55 ngày 18/04/2014, Đã xem 15 152 lần
Có 0 người đã bình chọn
  Đơn giá bán: Liên hệ
  VAT: Liên hệ
  Model: Áp xe vú
  Hãng SX: tactiasua.net
  Tình trạng: Còn hàng   Bảo hành: 12 Tháng

Đặt mua sản phẩm

DỊCH VỤ Y TẾ GIA ĐÌNH - CHĂM SÓC MẸ & BÉ
DỊCH VỤ Y TẾ GIA ĐÌNH - CHĂM SÓC MẸ & BÉ
40 Tạ Quang Bửu, Bách Khoa, Hai Bà Trưng, Hà Nội, Hai Bà Trưng, Hà Nội
091 565 6879
tactiasua@gmail.com
| Chia sẻ |
CHI TIẾT SẢN PHẨM

Abscess vú, Áp-xe vú là tình trạng trong vú có nang giống túi chứa đầy mủ và bao quanh bởi các mô viêm. Một người bị áp-xe vú thường do biến chứng của bệnh viêm vú, tình trạng viêm và nhiễm trùng của các mô vú. Viêm và áp xe vú là do xâm nhập của vi khuẩn vào các mô vú thông qua núm vú và gây ra nhiễm khuẩn các ống dẫn sữa và các tuyến sữa.

Cơ thể cố gắng để loại bỏ các tác nhân nhiễm trùng do vi khuẩn bằng cách đưa một số lượng lớn các bạch cầu (các tế bào chiến đấu chống vi khuẩn) đến khu vực bị nhiễm bệnh. Trong quá trình tiêu diệt với vi khuẩn, các tế bào máu trắng chết đi, vi khuẩn, các mô chết tồn tại trong các mô bị nhiễm bệnh tạo thành mủ. Các mô xung quanh cũng bị viêm và gây đau đớn.

Apxe vú là bệnh lý không phổ biến, áp xe vú thường gặp ở phụ nữ cho con bú vì sữa mẹ có thể gây nứt núm vũ tạo điều kiện cho phép vi khuẩn dễ dàng xâm nhập vào vú. Ápxe vú cũng có thể xảy ra ở những phụ nữ thừa cân, có ngực lớn hoặc người ít vệ sinh cá nhân. Hút thuốc cũng có thể làm tăng nguy cơ phát triển áp xe vú. Trong trường hợp hiếm gặp viêm vú và áp xe vú có thể là một dấu hiệu của bệnh ung thư vú. Tuy nhiên, áp-xe vú phổ biến nhất là do nhiễm trùng vi khuẩn, Staphylococcus aureus.

Các triệu chứng của áp xe bao gồm một khối u vú, thường nằm gần núm vú. Trong một số trường hợp, các khối u vú có thể nằm tại một vùng khác của vú. Các khu vực gần đó cũng cá các triệu chứng đau, sưng, đỏ và có thể cảm thấy nóng khi chạm vào. Các triệu chứng khác có thể bao gồm sốt, nước ở đầu núm vú, các hạch bị sưng dưới nách. Sưng hạch bạch huyết cũng có thể gây đau.

Nếu một áp xe vú không được phát hiện và điều trị kịp thời nó có thể dẫn đến hoại tử ở trường hợp nặng. Các nhiễm trùng từ ổ áp xe vú cũng có thể lan sang các mạch máu đi toàn cơ thể dẫn đến các biến chứng nặng, thậm chí biến chứng đe dọa tính mạng, chẳng hạn như nhiễm trùng huyết, suy thận và có thể tử vong. Các triệu chứng của biến chứng có thể bao gồm lẫn, hôn mê, mê sảng, co giật, tụt huyết áp, sốc, bất tỉnh và hôn mê.

Thực hiện chẩn đoán của áp xe vú bắt đầu với việc bệnh sử toàn thân bao gồm các triệu chứng và hoàn thành một cuộc kiểm tra cơ thể mà tập trung vào ngực. Áp-xe vú thường có thể được chẩn đoán dựa vào các triệu chứng cơ năng và thực thể.

Các xét nghiệm có thể được thực hiện gồm Công thực máu(CTM). CTM là một xét nghiệm máu để đo số lượng các loại tế bào máu, bao gồm cả các tế bào máu trắng (bạch cầu). Các loại bạch cầu tăng về số lượng theo những cách đặc trưng trong quá trình lây nhiễm viêm của áp xe vú. Nuôi cấy và kiểm tra kháng sinh đồ (C và S) cũng có thể được thực hiện. Điều này liên quan đến việc dùng một mẫu sữa mẹ bên vú bị ảnh hưởng trong phòng thí nghiệm. Xét nghiệm này xác định loại vi khuẩn gây ra áp xe vú, cũng như các kháng sinh sẽ có hiệu quả nhất trong điều trị nó.

Điều trị áp xe vú bao gồm thuốc và có thể phẫu thuật để dẫn lưu mủ thoát ra ngoài.

Bước đầu tiên trong điều trị áp-xe vú là ngăn ngừa sự xuất hiện của tác nhân gây bệnh. Phòng ngừa bao gồm duy trì tốt vệ sinh cá nhân với thường xuyên rửa tay, tắm rửa cơ thể bằng xà phòng và nước. Điều quan trọng là những phụ nữ đang cho con bú giữ sạch núm vú của họ trước và sau mỗi kỳ cho con bú, phát hiện ngay bất cứ triệu chứng của bệnh viêm vú hoặc áp-xe vú.

Áp-xe vú thường gây ra bởi một nhiễm trùng do vi khuẩn và được điều trị bằng thuốc kháng sinh. Hỗ trợ điều trị bao gồm nghỉ ngơi, uống tăng nước, bảo đảm dinh dưỡng tốt và sử dụng một khăn ấm áp cho vú và vùng bị viêm. Phụ nữ cho con bú có thể phải ngưng cho con bú bên vú bị ảnh hưởng cho đến khi áp xe vú và nhiễm trùng khỏi hoàn toàn. Điều này thường đòi hỏi phải hút sữa từ vú bị bệnh vì vậy nó không bị căng sữa và cho con bú chỉ từ vú kia. Thuốc giảm đau chỉ nên được thực hiện theo chỉ dẫn của bác sĩ.

Trong một số trường hợp, điều trị áp xe vú là có thể bao gồm chích rạch hoặc trổ chỗ vú bị áp-xe chảy dịch mủ ứ đọng, điều này được gọi là một vết mổ dẫn lưu.

THÔNG TIN BỆNH HỌC ÁP XE VÚ

I.Đại cương :
+Ap xe vú là một bệnh hay gặp ở phụ nữ ,rất ít gặp ở nam giới .
+Ap xe vú hay gặp nhất trong thời kỳ người phụ nữ sinh đẻ ,nuôi con(áp xe vú trong thời kỳ cho bú ).
II.Phân loại :
1.Dựa vào vị trí ổ áp xe có thể chia ra :
+Ap xe trước tuyến.
+ Ap xe trong tuyến.
+ Ap xe sau tuyến .
2.Dựa vào diễn biến của quá trình viêm có thể chia ra :
+Giai đoạn viêm.
+Giai đoạn tạo thành áp xe và hoại thư vú.
III. Nguyên nhân,bệnh sinh :
1.Nguyên nhân :
Vi khuẩn gây viêm mủ ở vú thường là tụ cầu và liên cầu Hiếm gặp hơn là các loại phế cầu ,lậu cầu ,trực khuẩn thương hàn ,vi khuẩn kỵ khí .
Sức đề kháng của cơ thể ,điều kiện sống và quá trình ứ đọng sữa trong tuyến vú là các yếu tố đóng vai trò quan trọng trong bệnh sinh áp xe vú .
2.Bệnh sinh :
Các vi khuẩn gây bệnh có thể xâm nhập vào tuyến vú qua hai đường trực tiếp và gián tiếp .
+Đường trực tiếp :Các vi khuẩn gây bệnh thường có trên da có thể xâm nhập trực tiếp vào tuyến vú qua các ống dẫn sưã hoặc các vết xây sát ở núm vú và vùng quầng vú .
+Đường gián tiếp :Vi khuẩn có thể xâm nhập vào tuyến vú từ một ổ nhiễm khuẩn nào đó của cơ thể qua đường máu hoặc đường bạch huyết.
IV.Lâm sàng :
Các dấu hiệu lâm sàng phụ thuộc vào vị trí ,giai đoạn và tiến triển của quá trình viêm .Có thể chia ra :Giai đoạn viêm và giai đoạn tạo thành áp xe .
1.Giai đoạn viêm :
Bệnh thường khởi phát đột ngột :sốt cao ,mệt mỏi ,đau đầu ,mất ngủ .Đau nhức sâu ở trong tuyến ,đau tăng khi khám ,khi cử động cánh tay .Vú bị viêm to ra ,chắc ,hạch nách cùng bên to và đau .Vùng da ở phía trên ổ viêm có thể bình thường nếu ổ viêm ở sâu trong tuyến ,hoặc có thể nóng ,đỏ ,phù nề nếu ổ viêm nằm ngay dưới da hoặc trên bề mặt của tuyến .Xét nghiệm thấy bạch cầu tăng cao ,công thức bạch cầu chuyển trái ,tốc độ máu lắng tăng cao .
2.Giai đoạn tạo thành áp xe :
Ap xe vú là những túi mủ khư trú ở vú được hình thành do sự hoại tử các mô .Có thể có một hoặc nhiều ổ áp xe nằm ở một hoặc nhiều thuỳ khác nhau của tuyến vú .ở giai đoạn tạo thành áp xe ,tất cả các triệu chứng của giai đoạn viêm đều tăng lên .
+Toàn thân : Biểu hiện bằng hội chứng nhiễm trùng ,nhiễm độc : sốt cao kèm theo rét run ,rùng mình .Môi khô ,lưỡi bự bẩn ,đau đầu ,khát nước .Da xanh ,cơ thể gầy yếu ,mất ngủ .
+Cơ năng : Đau nhức nhối ,đau sâu trong tuyến vú .Đau tăng khi vận động cánh tay ,khi cho con bú
+Tại chỗ :Vú xưng to ,vùng da phía trên ổ áp xe thường nóng ,căng ,xung huyết đỏ hoặc phù tím .Da cũng có thể vẫn bình thường nếu ổ áp xe nằm ở sâu .Các tĩnh mạch dưới da nổi rõ ,có hiện tượng viêm bạch mạch .núm vú tụt .Sờ có thể thấy dấu hiệu ba động .Nếu ổ áp xe thông với các ống dẫn sữa thì có thể thấy sữa lẫn mủ chẩy qua đầu núm vú .Chọc hút đúng ổ áp xe có thể hút được mủ.
V.Tiến triển và biến chứng :
Viêm mủ tuyến vú nếu không được điều trị hoặc điều trị không đúng cách có thể diễn biến theo các hướng sau :
1.Viêm xơ tuyến vú mãn tính :
Là hậu quả của việc dùng kháng sinh kéo dài ở giai đoạn áp xe hoặc là hậu quả của các quan niêm sai lầm :tiêm trực tiếp kháng sinh vào tuyến vú để điều trị áp xe vú . ở giai đoạn này biểu hiện toàn thân khá hơn .Không sốt hoặc chỉ sốt nhẹ . Khám có thể sờ thấy một vùng thâm nhiễm rắn như sụn ,bề mặt lổn nhổn ,ranh giới không rõ ràng ,không dính da ,ít đau.
2.Viêm mô liên kết (viêm tấy tuyến vú ) :
Là quá trình viêm mủ tuyến vú khi dịch tiết lẫn mủ nằm giữa các lớp da ,tổ chứclỏng lẻodưới da ,tổ chức liên kết và tổ chức tuyến vú . Quá trình viêm được khuyếch tán lan rộng và thấm ướt tổ chức .Diễn biến lâm sàng thường được biểu hiện bằng hội chứng nhiễm trùng ,nhiễm độc toàn thân nặng .Vùng thâm nhiễm không có ranh giới rõ ràng .
3.Hoại thư vú :
Là biến chứng nặng nhất cả quá trình viêm mủ vú do những vi trùng có độc tính cao hoặc do trực khuẩn hoại thư gây ra .Lâm sàng được biểu hiện bằng hội chứng nhiễm trùng ,nhiễm độc nặng ,huyết áp tụt ,toàn thân suy mòn .Tuyến vú căng to ,phù nề ,da có mầu vàng nhạt ,có thể hoại tử .Hệ thống hạch bạch huyết xưng đau.
VI.Chẩn đoán và chẩn đoán phân biệt :
Ơ giai đoạn áp xe hoặc viêm tấy cần phân biệt với ung thư vú thể cấp dạng viêm :
Ung thư vú thể cấp dạng viêm hay gặp ở phụ nữ trẻ ,đang tuổi cho con bú ,có khi bị ung thư cả hai vú cùng một lúc . Vú to ra rất nhanh ,không đau ,trông bề ngoài giống như viêm tấy . Hạch nách thường bị thâm nhiễm sớm .Toàn thân suy sụp nhanh .Đôi khi có sốt và bệnh nhân có thể chết trong vòng 1-3 tháng .Để chẩn đoán phân biệt cần làm xét nghiệm chẩn đoán vi thể tế bào học chọc hút bằng kim nhỏ hoặc làm sinh thiết tức thì.
VII.Dự phòng và điều trị :
1.Dự phòng :
Để tránh áp xe vú trong thời kỳ cho bú cần :giữ gìn vệ sinh tốt vùng vú trước và sau khi cho con bú ;tránh làm xây sát ,rạn nứt đầu núm vú ,tránh ứ đọng sữa ,tắc sữa .
1.Điều trị :
Tuỳ theo vị trí và kích thước của ổ ap xe mà có thái độ điều trị khác nhau .Về nguyên tắc :khi đã tạo thành áp xe thì cần phải chích rạch ,tháo mủ .
+Với các áp xe ở nông dưới da ,vùng quầng vú :Điều trị giống như chích nhọt ở nơi khác .
+Đối với các áp xe thể tuyến ưới gây mê hoặc gây tê tại chỗ ,chích áp xe theo đường nan hoa ở chỗ thấp nhất trên khu vực áp xe . Chiều dài đường rạch từ 7-10cm ,cách núm vú từ 2-3 cm . Dùng ngón tay đưa vào ổ mủ để phá hết các vách xơ . Bằng đường rạch như trên ,nếu thấy khó tháo mủ vì áp xe có nhiều ổ thì có thể rạch đường thứ hai ( rạch đối chiếu ). Sau khi tháo mủ cần đặt dẫn lưu bằng ống cao su hoặc độn gạc .Sau mổ cần bơm rửa ổ áp xe hàng ngày qua ống dẫn lưu bằng dung dịch sát trùng ,kết hợp với dùng kháng sinh toàn thân .Khi đường rạch tháo mủ không đủ rộng ,mủ có thể bị ứ lại và quá trình viêm sẽ lan sang các thuỳ tuyến lân cận
+Với các áp xe ở sau tuyến :Cần rạch tháo mủ theo đường vòng cung ở bờ dưới ,ngoài tuyến vú .Sau khi chích tháo mủ cần đặt ống dẫn lưu hoặc độn gạc .Cần rửa ổ áp xe hàng ngày bằng các dung dịch sát trùng dể tạo điều kiện cho quá trình liền sẹo của ổ áp xe nhanh hơn .

Vui lòng liên hệ - 098 338 2898 để được tư vấn trực tiếp

 
NHẬN XÉT SẢN PHẨM
Chưa có nhận xét gì về sản phẩm
VIẾT NHẬN XÉT
  Hãy đăng nhập để viết nhận xét cho sản phẩm
Sản phẩm cùng loại khác